Từ trái sang- Nhà báo Phạm Tấn Tư, ông Mai Thúc Lân, bà Khanh và Nguyễn Xuân Đoán (lái xe phục vụ Bí thư Mai Thúc Lân).
Tết Ất Mùi này, cõi đời vắng bóng ông Mai Thúc Lân. Tôi cùng nhiều người thân, bạn bè và bà con quê hương Quảng Nam, Đà Nẵng không còn được nghe ông Lân chúc tết đầu xuân. Trước tết hơn 3 tháng, lúc 5h04 phút ngày 29.10.2014, ông trút hơi thở cuối cùng sau hơn 10 năm chiến đấu kiên cường với căn bệnh ung thư... Trong cuộc đời làm báo, tôi may mắn có nhiều năm gắn bó với ông, khi ông trở về quê nhà nhận nhiệm vụ Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng.
Dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm
Với tôi, sự ra đi của ông quá đột ngột. Vừa mới cuối tháng 7 năm ngoái, tôi còn được ngồi ăn cơm với vợ chồng ông và con cháu của ông trong một quán ăn ở thành phố Đà Nẵng mà ông thích. Giọng nói của ông vẫn vang vang, ánh mắt tràn đầy niềm vui. Thật không ngờ, đây là lần cuối cùng ông trở về thăm quê!
Trong cuộc đời làm báo, tôi may mắn có nhiều năm gắn bó với ông. Năm 1994, ông trở về quê nhà nhận nhiệm vụ Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng. Vài tháng sau, tôi được Ban Biên tập Báo Quảng Nam - Đà Nẵng phân công đi đưa tin về các hoạt động của Bí thư Đảng bộ tỉnh. Gần 3 năm gần gũi bên ông, tôi rất đỗi ngưỡng vọng ông - một người cộng - sản - mẫu - mực từ việc nước đến chuyện nhà. Tính cách ông Mai Thúc Lân là dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm và nặng tình quê hương. Ông không ngại nêu quan điểm khác với ý kiến những người có chức vụ cao hơn. Tính cách ấy rõ chất Quảng Nam: Hay cãi, quyết liệt, ngang phè, ghét thói xu nịnh, giả dối, không theo đuôi ở chốn quan trường… Ông là người liêm khiết, sống giản dị, thẳng thắn, chân tình, giàu lòng yêu thương. Tôi và nhiều người kính trọng ông điều ấy.
Còn nhớ năm 1996, tôi được ông cho phép đi đưa tin về hoạt động của Đoàn đại biểu tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng về dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII diễn tại Hà Nội từ ngày 28.6 đến ngày 1.7. Lúc đó, tôi đã nghe ông phát biểu thẳng thắn nhiều nội dung sâu sắc góp ý cho các văn kiện trình Đại hội Đảng. Bây giờ, lật lại sổ tay phóng viên của mình, thấy những lời ông nói còn nóng hổi tính thời sự. Tối ngày 22.6.1996, khi thảo luận ở đoàn, ông nói thẳng tưng: “Nhiều đồng chí cán bộ Trung ương có đơn thư tố cáo liên quan đến nhà đất, hối lộ, gửi tiền ra ngân hàng nước ngoài, thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng vẫn chưa được kết luận, cũng không ai bị xử lý đã làm xói mòn niềm tin trong nhân dân. Trung ương đã như vậy thì địa phương càng khó chống tham nhũng”. 20 năm trước, ông đã từng lên tiếng cảnh báo “tham nhũng đang đe dọa sự tồn vong của đất nước”. Sau này, khi về nghỉ hưu, ông vẫn luôn đau đáu nỗi lo và bảo rằng, một số cán bộ mình dạo này hư quá(!!!). Ông thật sự lo lắng về nguy cơ mất chế độ nếu Đảng không sớm khắc phục những khuyết điểm, sai lầm.
Đi với ông, tôi học được nhiều điều hay lẽ phải, đặc biệt là những kinh nghiệm giải quyết công việc, xử lý tình huống. Ông thường nhắc chúng tôi giữ đạo làm người, sống chân thành, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau. Ông dặn tôi, làm báo cần phải có cái tâm trong sáng, viết đúng sự thật, đứng về phía nhân dân và bênh vực kẻ yếu. Có lẽ ông là người Bí thư Tỉnh ủy duy nhất cho phép một phóng viên trẻ như tôi ngày ấy được ngồi nghe và đưa tin về các cuộc họp của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, trừ những cuộc họp bàn về nhân sự. Sau này không có phóng viên nào được như thế.
Chú ý quan sát một cái nhíu mày, một chút trầm ngâm hay một lời nói gai góc của ông trước vấn đề nào đó cũng giúp tôi nghĩ ra một đề tài hay. Một lần đi tiếp xúc cử tri tại huyện Đại Lộc, nghe bà con phản đối tình trạng “cò chạy chính sách”, ông rất bất bình. Ông yêu cầu chính quyền địa phương kiểm tra, giải quyết ngay chuyện bất công này. Một tuần lễ sau, tôi trở lại làng quê ấy viết bài điều tra về nạn cò chính sách ở làng quê cách mạng. Không bao lâu sau, những tên cò bị tôi “điểm mặt” trong bài báo đã bị xử lý đúng người, đúng tội. Chính ông đã tạo niềm tin cho những người làm báo mạnh dạn đấu tranh chống tiêu cực. Không ít lần chúng tôi viết bài phê phán, đụng chạm cán bộ chủ chốt của tỉnh. Có người phản ứng, viết như thế không có lợi cho địa phương. Ông hỏi lại, anh em báo chí viết như thế đúng hay sai? Nếu viết đúng thì mình tiếp thu sửa chữa. Còn viết sai thì tuỳ theo tính chất, mức độ mà xem xét, xử lý theo luật báo chí. Chúng tôi hoàn toàn yên tâm sau khi ông tỏ rõ quan điểm ủng hộ của người lãnh đạo cao nhất địa phương. Cũng có người “khẩu chưa phục” nhưng đành lặng thinh…
62 tuổi, nặng hơn 40kg, vẫn sẵn sàng xông vào nơi gian khó
Tôi khâm phục ông về tinh thần trách nhiệm và sức làm việc dẻo dai, không ngại gian khó. Khi Bộ Chính trị có chủ trương chia tách tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, tôi mạnh dạn hỏi: “Chú ở Đà Nẵng hay vào Quảng Nam?”. Ông nói ngay: “Tớ về Quảng Nam, còn cậu thế nào?”. Tôi liền thưa: “Cháu vào Quảng Nam với chú”. Ông cười vui vẻ. Vậy là từ lúc đó, cả ông lẫn tôi đều quyết định về với tỉnh mới bộn bề khó khăn, vất vả. Trong lúc Trung ương chưa phân công cụ thể ai đi, ai ở thì ông đã nhận lãnh trách nhiệm nặng nề. Năm đó, ông đã 62 tuổi, chỉ cân nặng hơn 40kg mà vẫn sẵn sàng xông vào nơi gian khó.
Tính ông là thế. Đã nói là làm. Luôn nhận việc khó về phần mình, không toan tính thiệt hơn. Bây giờ, xin hỏi mấy ai làm được như ông?
Từ lâu, ông đã xem tôi như con cháu trong nhà. Trong cuốn “Hồi ký Mai Thúc Lân: Chuyện đời, ấm lạnh - buồn vui”, ông kể: “Những đợt nhà tôi về Hà Nội hoặc đi thành phố Hồ Chí Minh thăm con cháu, để đỡ trống vắng, Phan Văn Kha (thư ký của ông Mai Thúc Lân - NV) thường rủ Phạm Tấn Tư, phóng viên Báo Quảng Nam - Đà Nẵng vào ngủ ở cơ quan với tôi, cùng xem tivi và nói chuyện trên trời dưới đất”. Gần gũi ông, tôi càng hiểu tấm lòng của một người nặng tình quê hương. Sống xa quê nhưng lòng ông luôn nặng tình, nặng nghĩa với mảnh đất mà ông cùng các anh em mình đã chôn nhau cắt rốn.
Những dòng này như một lời tri ân tôi bày tỏ tấm lòng thành kính tưởng nhớ ông!